1. Vị trí địa lý, địa hình và dân số

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, nằm ở giữa Tây Bắc và Đông Bắc của tổ Quốc Việt Nam, có toạ độ địa lý: 21030’ đến 22040’ vĩ độ Bắc và 104053’ đến 105040’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Có diện tích tự nhiên là 5.868 km2, được phân chia làm các khu vực sau:
- Khu vực núi cao phía Bắc: Gồm toàn bộ huyện Na Hang và các xã vùng cao của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn. Diện tích toàn khu vực này chiếm khoảng trên 50% diện tích tự nhiên của tỉnh, phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và trồng rừng, phát triển kinh tế lâm – nông nghiệp.

 

 

- Khu vực núi thấp: Gồm các xã phía Nam của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương. Diện tích khu vực này chiếm 40% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đồi núi ở đây có độ dốc phổ biến 100 đến 250, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày khác.
- Khu vực đồi và thung lũng dọc sông Lô, sông Phó Đáy gồm thị xã Tuyên Quang và phần còn lại của các huyện Yên Sơn, Sơn Dương với diện tích khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh. Khu vực này đang và sẽ là địa bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của tỉnh. 
Dân số toàn tỉnh là 725.687 người (1/4/2008), trong đó thành thị có 93.502 người chiếm tỉ lệ 12,9%, nông thôn có 631.985 người chiếm tỉ lệ 87,1%. Mật độ dân số là 124 người/1km2. 

2. Khí hậu
Khí hậu của Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.295-2.266 mm. Nhiệt độ trung bình 220 - 230C. Độ ẩm bình quân năm là 85%. Tuyên Quang có 3 sông lớn chảy qua đó là: Sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy. Sông Lô có đoạn chảy qua tỉnh dài 145 km. Đây là đường thuỷ nối Tuyên Quang với các tỉnh khác liền kề và có khả năng vận tải với các sà lan, tàu thuyền có sức chứa hàng chục tấn vào mùa khô và hàng trăm tấn vào mùa mưa; sông Gâm, đoạn chảy qua tỉnh dài 170 km, có khả năng vận tải đường thuỷ, nối các huyện Na Hang, Chiêm Hoá với tỉnh lỵ; sông Phó Đáy, đoạn chảy trên địa phận Tuyên Quang dài 84 km. Ngoài ra, Tuyên Quang còn có các sông nhỏ khác liên kết với nhau thành mạng lưới theo lưu vực 3 sông chính. Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, đồng thời chứa đựng tiềm năng phát triển thuỷ điện; Trên sông Gâm, tại Na Hang có nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang với công suất 342 MW. 

3. Giáo dục

3.1. Những kết quả đạt được
Trong năm học 2008-2009, toàn ngành đã triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết, các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, của tỉnh đặc biệt là Nghị quyết số 07-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XIV) về phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010; triển khai thực hiện có hiệu quả một số nội dung trong Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 19/9/2008 của UBND tỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.


Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành từ Sở đến các cơ sở giáo dục bước đầu có những đổi mới, lựa chọn những vấn đề then chốt, cấp bách ngành cần tập trung tham mưu, tổ chức thực hiện quyết liệt. Lãnh đạo Sở đã trực tiếp làm việc với các cơ sở giáo dục, bám sát thực tiễn tìm cách chỉ đạo phù hợp, giải quyết kịp thời, dứt điểm những vướng mắc phát sinh. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ năm học được tăng cường. Đã tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 2008, 2009 được UBND tỉnh giao, đến hết tháng 7/2009, cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo thời gian năm học.

Chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên, số học sinh yếu, kém, chưa đạt chuẩn kiến thức kỹ năng giảm, số lượng học sinh bỏ học giảm. Kỳ thi tốt nghiệp THPT được tổ chức nghiêm túc, khách quan, an toàn đúng quy chế theo Quy chế thi mới của Bộ, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp tăng so với năm học trước, tỉnh được xếp thứ 37/63 tỉnh, thành phố. Kết quả hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp THCS tăng so với năm học trước.
Giáo dục chuyên nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, quy mô, số lượng ngành nghề đào tạo tăng.

Công tác tổ chức cán bộ, việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được đặc biệt quan tâm, tổ chức tuyển mới giáo viên mầm non, tiểu học, THCS, THPT bằng hình thức thi tuyển; đánh giá chất lượng giáo viên tiểu học, mầm non theo chuẩn nghề nghiệp của Bộ GD&ĐT; cơ cấu giáo viên đã được cải thiện, ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn, hiệu quả làm việc của giáo viên được nâng lên.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng học, nhà công vụ cho giáo viên được đầu tư xây dựng theo kế hoạch thực hiện Chương trình kiên cố hóa và các Dự án từng bước đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, quản lý của giáo viên, học sinh và các nhà trường.

3.2. Những tồn tại, hạn chế

Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của các cấp quản lý còn có những điểm yếu kém, bất cập. Năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục các cấp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục.

Đội ngũ giáo viên chưa hợp lý về cơ cấu, vừa thừa, vừa thiếu. Chất lượng, trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên không đồng đều, một bộ phận nhỏ giáo viên qua đánh giá chưa đáp ứng được theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên.

Chất lượng giáo dục còn thấp và chưa ổn định.

Chỉ tiêu xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch số 30/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh chưa đạt.

Tiến độ thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường lớp và xây nhà công vụ cho giáo viên chậm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đã được tăng cường nhưng so với yêu cầu vẫn còn thiếu.Việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục còn khó khăn.

3.3. Bài học kinh nghiệm

Tích cực, chủ động tham mưu đề xuất với Tỉnh ủy, UBND tỉnh những nội dung liên quan đến phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh.Triển khai nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của ngành và của tỉnh, bám sát cơ sở, tìm giải pháp tích cực, chỉ đạo, điều hành kiên quyết.

Nghiên cứu thực tiễn, tham mưu những vấn đề mang tính chiến lược đối với giáo dục và đào tạo phù hợp với phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật kịp thời.